LỢI THẾ ĐẦU TƯ

1. Đồng Nai nằm trong địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam là trọng điểm đầu tư của Chính phủ. Trung tâm của tỉnh là Thành phố Biên Hoà, cách TP. Hồ Chí Minh 30 km về phía Tây, một trung tâm kinh tế-khoa học kỹ thuật - văn hoá giáo dục lớn nhất cả nước. Với dân số năm 2010 trên 8 triệu người của TP.Hồ Chí Minh có thu nhập bình quân cao nhất nước cùng với dân số trên 2,3 triệu người của Đồng Nai là thị trường tiêu thụ rộng lớn và nguồn cung cấp lao động đạt chất lượng cao, dồi dào cho nền sản xuất công nghiệp của Đồng Nai.

2. Đồng Nai có hệ thống giao thông rất thuận lợi với các quốc lộ 1, 51, 20 với tổng chiều dài 244,5 km đã và đang được mở rộng nâng cấp theo tiêu chuẩn đường cấp I, II đồng bằng (Quốc lộ 1, 51), cấp III đồng bằng (Quốc lộ 20) có nhiều tuyến đường liên tỉnh, tuyến đường sắt Bắc-Nam và hệ thống các cảng ở Đồng Nai cùng với cảng ở TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất....đáp ứng tốt cho nhu cầu lưu thông hàng hoá. Trong tương lai hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh sẽ tiếp tục được nâng cấp, mở rộng và đầu tư mới như trục đường bộ các nước khu vực Đông Nam Á, đường cao tốc nối TP. Hồ Chí Minh với Bà Rịa-Vũng Tàu, hệ thống đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu, kế hoạch nối mạng đường sắt Singapore-Côn Minh (Trung quốc) có 50 km chạy qua Đồng Nai để hòa vào mạng lưới đường sắt Bắc-Nam được cải tạo theo tiêu chuẩn quốc tế.

Hệ thống cảng biển, công suất thông qua hiện đạt khoảng 3,5 triệu tấn/năm, bao gồm các cảng:

² Cảng tổng hợp Đồng Nai trên sông Đồng Nai (diện tích mặt bằng đang sử dụng 2,5 ha, luồng vào cảng hiện đảm bảo cho tàu 2000DWT ra vào, hàng thông qua đạt trên 600 nghìn tấn/năm và 2 cảng chuyên dụng hàng lỏng chủ yếu là gas gồm cảng SCTGas và cảng VT.Gas (tại phường Long Bình Tân- TP.Biên Hoà) có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải dưới 1000 tấn.

² Cảng tổng hợp Gò Dầu gồm khu A trên sông Thị Vải (phục vụ KCN Gò Dầu) diện tích 18 ha, hiện sử dụng để cập tàu trọng tải 2.000 DWT;

² Cảng tổng hợp Gò Dầu khu B trên sông Thị Vải (gồm 2 bến tổng hợp) có mặt bằng rộng 50 ha, hiện bến 2 có thể đón tàu 12.000 DWT;

² 03 cảng chuyên dụng trên sông Thị Vải: cảng VEDAN (Phước Thái) có khả năng tiếp nhận tàu hàng khô 10.000 DWT và tàu hàng lỏng 12.000 DWT, cảng nhà máy Super phosphate Long Thành có khả năng tiếp nhận tàu 3000- 5000 DWT và cảng nhà máy Unique Gas chuyên tiếp nhận hàng khí hóa lỏng có khả năng tiếp nhận tàu 6.500 DWT.

²  03 cảng chuyên dụng trên sông Nhà Bè và Lòng Tàu (thuộc Nhơn Trạch), gồm: cảng Viko-Wochimex (sông Lòng Tàu) chuyên dụng cho tàu 15.000 DWT chuyên chở xuất nhập gỗ dăm cho nhà máy; cảng gỗ mảnh Phú Đông (S.Nhà Bè) chuyên dụng cho tàu trọng tải 25.000 DWT xuất nhập gỗ dăm mảnh; cảng xăng dầu Phước Khánh (S.Nhà Bè) chuyên dụng cho tàu dầu trọng tải tới 25.000 DWT.

² Hệ thống bến cảng sông, hàng bách hoá thông qua các bến cảng sông hiện đạt khoảng 142- 205 nghìn tấn/năm, còn lại chủ yếu là nguyên vật liệu xây dựng từ khai thác tại chỗ. Các bến cảng chính gồm:

² Bến cảng chuyên dụng của các doanh nghiệp và hàng container: khu vực phường An Bình (TP. Biên Hoà), trên sông Cái hiện có bến COGIDO của công ty giấy Đồng Nai sử dụng cho sà lan 500 tấn, bến thức ăn gia súc Con Cò cho sà lan 500- 1000 tấn, bến Tín Nghĩa (ICD Biên Hoà) phục vụ container cho sà lan 1000 tấn và trên sông Đồng Nai có bến bột ngọt Ajinomoto cho sà lan đến 500 tấn, bến cảng của công ty Vận tải sông biển cho sà lan 500- 1000 tấn; tại xã Long Tân (Nhơn Trạch) có cảng trung chuyển container gồm 3 bến sà lan 1000 tấn và 3 bến sà lan 3000 tấn.

² Bến vật liệu xây dựng: khu vực TP.Biên Hoà có 5 bến bốc xếp cát, đá sỏi An Bình cho sà lan 500- 1000 tấn, 27 bến xuất đá và 5 bến xuất cát tại Hoá An; khu vực Long Thành trên sông Buông có 5 bến bốc xếp đất đỏ cho sà lan 500- 1000 tấn; khu vực huyện Vĩnh Cửu có 8 bến trên sông Đồng Nai gồm 1 bến xuất cát, 3 bến xuất đất đỏ, 1 bến puzalan tại Đại An cho ghe 100 tấn và 3 bến xuất đá tại Thiện Tân cho sà lan 500 tấn.

3. Đồng Nai có nguồn và hệ thống cung cấp nước đầy đủ đến các khu công nghiệp. Nguồn nước mặt sông Đồng Nai không chỉ cung cấp cho Đồng Nai mà còn cung cấp cho TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương. Các nhà máy nước hiện cung cấp nước cho các cụm khu công nghiệp gồm nhà máy nước Biên Hoà 36.000m3/ngày, nhà máy nước Long Bình 30.000m3/ngày, nhà máy nước Thiện Tân 100.000m3/ngày, nhà máy nước Nhơn Trạch 15.000m3/ngày.Trong tương lai nhà máy nước Thiện Tân sẽ mở rộng với công suất lên 1.000.000m3/ngày, nhà máy nước Nhơn Trạch 200.000 m3/ngày, nhà máy nước Gia Ray 2.400 m3/ngày, trạm bơm Hóa An 6.000 m3/ngày, nhà máy nước Long Khánh 5.000 m3/ngày khi có nhu cầu của sự phát triển kinh tế Đồng Nai.

4. Việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp được đẩy mạnh và có hiệu quả. Đến năm 2010 có 11 khu công nghiệp, nâng tổng số khu công nghiệp được thành lập trên địa bàn tỉnh đến nay là 30 khu với diện tích 9.573 ha. Trong đó đã cho thuê được 61% diện tích đất dùng cho thuê (cao hơn so 47% của cả nước và 56% của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam). Đang lập thủ tục thành lập khu liên hợp công nông nghiệp Donataba, khu công nghệ cao chuyên ngành công nghệ sinh học, khu đô thị công nghệ cao tại Long Thành, Cẩm Mỹ. Về phát triển các cụm công nghiệp, đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có 43 cụm công nghiệp được quy hoạch với tổng diện tích là 2.143 ha, trong đó có 2 cụm công nghiệp đã đầu tư hoàn thiện hạ tầng, 6 cụm công nghiệp đang đầu tư hạ tầng, số còn lại đang trong quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng và lập thủ tục đầu tư. Các khu công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển các ngành công nghiệp, tạo động lực cho quá trình đô thị hóa, phát triển dịch vụ; đồng thời tạo điều kiện đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

5. Nông nghiệp tỉnh Đồng Nai với diện tích 292.000ha đất trồng trọt với gần 1,4 triệu dân số, lao động cần cù, chịu khó và có nhiều kinh nghiệm cả trồng trọt và chăn nuôi nên là một thị trường tiềm năng cả về tiêu thụ và nguyên liệu rộng lớn của công nghiệp. Mặt khác nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai phát triển theo hướng tập trung chuyên canh nên có khối lượng nông sản, hàng hoá lớn và cây công nghiệp có thể đáp ứng cho nhu cầu công nghiệp chế biến như : cà phê, cao su, mía, bông, khoai mỳ, bắp, đậu nành, thuốc lá, điều, cây ăn quả.....

6. Đồng Nai đã tập trung phát triển lưới điện phục vụ cho yêu cầu phát triển công nghiệp và thực hiện có kết quả chương trình điện khí hoá nông thôn. Tỉnh Đồng Nai có nhà máy thủy điện Trị An với tổng công suất phát là 400 MVA đươc hòa vào mạng lưới quốc gia thông qua các đường dây 220 KV Trị An - Long Bình. Đường dây 220 KV từ Đa Nhim về cũng hòa lưới điện tại trạm 220/110 KV-2x250 MVA Long Bình. Đường dây 220 KV xuất tuyến từ trung tâm nhiệt điện Phú Mỹ cũng được kết nối tại trạm Long Bình. Để xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn chỉnh, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam tiếp tục đầu tư để cải tạo và nâng cấp hệ thống điện truyền tải cũng như phân phối. Bên cạnh lưới điện quốc gia tỉnh Đồng Nai còn có Công ty Liên doanh Amata Power, tự phát điện để cấp điện cho khu công nghiệp Amata và các khu công nghiệp lân cận.

7. Địa hình tỉnh Đồng Nai là dạng địa hình trung du chuyển từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng Nam Bộ, có 3 loại địa hình chính là: địa hình đồng bằng (có độ cao trung bình từ 5 - 10 m), địa hình vùng đồi (có độ cao trung bình khoảng 45 m) và địa hình vùng núi thấp (chiếm 2% diện tích đất tự nhiên, có độ cao trung bình khoảng 300 m). Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25,40C đến 27,20C; độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 83,5%. Lượng mưa trung bình là 1.800 mm, lượng mưa phân phối không đều, chủ yếu vào mùa mưa. Khí hậu Đồng Nai mang nét đặc trưng của khí hậu Miền Đông Nam bộ: có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 của năm sau. Hướng gió chủ yếu trong năm là hướng Tây - Tây Nam và Bắc - Đông Bắc, là khu vực ít có lốc hay bão. Ngoài ra tỉnh Đồng Nai còn có hệ thống sông rạch rộng lớn, các sông chính bao gồm Sông Bé, Sông La Ngà, Sông Đồng Nai, Sông Nhà Bè, Sông Đồng Tranh..., hồ thủy điện Trị An cũng là nơi điều tiết lớn lượng nước để làm thuỷ điện, dự trữ tưới tiêu và ngăn lũ. Điều kiện tự nhiên của tỉnh Đồng Nai rất thuận lợi cho phát triển kinh tế đặc biệt là công nghiệp.

8. Khoáng sản Đồng Nai tương đối phong phú về chủng loại và đa dạng về loại hình. Đến nay đã phát hiện được 214 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng hóa với tiềm năng triển vọng khác nhau thuộc 5 nhóm: than bùn, kim loại, không kim loại, đá quí- bán quí và nước khoáng- nước ngầm. Trong đó các loại khoáng sản có triển vọng là:

² Nhóm không kim loại: các khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và phụ gia ximăng (đá, cát, sét, laterit, puzơlan, keramzit).

² Nhóm kim loại: vàng

² Nhóm nước ngầm

Các tài liệu địa chất hiện có cho thấy Đồng Nai có kết cấu địa chất tương đối ổn định, vững chắc. Lớp vỏ phong hóa rất dày và cấu tạo phong phú, đặc biệt kiểu vỏ phong hóa chiếm phần lớn địa bàn là laterit dạng dăm ferit ferolit do các keo sắt đang trong quá trình biến đổi nên chúng có độ gắn kết và chịu lực rất tốt, do đó khi xử lý nền móng ít tốn kém, thuận lợi cho việc xây dựng các công trình như nhà xưỡng, đường giao thông, bến cảng...

UBND tỉnh đã phê duyệt báo cáo "Quy hoạch sử dụng và các biện pháp quản lý tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2010" là căn cứ cho việc khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản trên địa bàn, đáp ứng nhu cầu về công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản theo Luật khoáng sản.

9. Thông tin liên lạc của Đồng Nai đã được đầu tư mở rộng và hiện đại hóa đáp ứng tốt yêu cầu với chất lượng cao. Toàn tỉnh có 79 bưu cục, 47 tổng đài điện thoại điện tử, tập trung ở các trung tâm công nghiệp.

Dịch vụ thông tin di động đã có: thông tin di động hệ GSM với 17 trạm phủ sóng tại Thành phố Biên Hòa, khu công nghiệp Amata, khu công nghiệp Biên Hòa 1, khu công nghiệp Biên Hòa 2, khu công nghiệp Hố Nai, khu công nghiệp Loteco, khu công nghiệp Sông Mây, khu công nghiệp Nhơn Trạch 1, khu công nghiệp Nhơn Trạch 2, khu công nghiệp Gò Dầu, trung tâm các huyện Long Thành, huyện Nhơn Trạch, huyện Thống Nhất, thị xã Long Khánh, huyện Định Quán, huyện Xuân Lộc, huyện Vĩnh Cửu, huyện Trảng Bom, huyện Cẩm Mỹ.

Dịch vụ nhắn tin đã có: nhắn tin Việt Nam (107, MCC, Phonelink, ABC, EPRO), Internet, VN.Mail, VNN, truyền số liệu tốc độ cao ISDN... với hệ thống truyền dẫn cáp sợi quang đảm bảo chất lượng, nhanh chóng, chính xác.

Dịch vụ bưu chính đã có chuyển phát nhanh EMS, chuyển phát nhanh tận nơi: DHL Fedex, Airborne, PCN, UPS, Vinacargo....

10. Các nhà đầu tư đến Đồng Nai có thể giải trí sau những giờ làm việc nặng nhọc thông qua các khu du lịch của tỉnh như: khu văn miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch Bửu Long, rừng quốc gia Nam Cát Tiên, làng bưởi Tân Triều, Đảo Ó Đồng Trường, thác Mai- hồ nước nóng... và các tỉnh lân cận như: du lịch biển tại Bà Rịa-Vũng Tàu, Mũi Né (Bình Thuận) và đặc biệt là thắng cảnh nổi tiếng hấp dẫn của xứ sương mù Đà Lạt.

Chính vì những yếu tố nêu trên nên công nghiệp Đồng Nai đã có tốc độ phát triển khá cao, thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến Đồng Nai. Trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã thu hút 32 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trên địa bàn tỉnh, trong đó dẫn đầu là các nước Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản,... với tổng vốn đăng ký đến nay trên 15 tỷ USD, trong đó giai đoạn 2006-2009 thu hút được 8,936 tỷ USD, Đồng Nai được xếp thứ 3 trong cả nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Kết quả phát triển công nghiệp đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Đồng Nai từ một tỉnh nông nghiệp thành một tỉnh công nghiệp với cơ cấu công nghiệp chiếm đến 57,2% trong cơ cấu GDP năm 2010.

Năm 2009, tình hình suy giảm kinh tế thế giới tác động mạnh đến sản xuất của doanh nghiệp và đời sống nhân dân. Song tình hình sản xuất và xuất khẩu tỉnh Đồng Nai có dấu hiệu phục hồi vào tháng 5/2009, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2009 đạt 85.108 tỷ đồng, tăng 10,7% so năm 2008. Đây là mức tăng trưởng thấp nhất trong thời gian qua: năm 2006 tăng 22,04%; năm 2007 tăng 21,22%; năm 2008 tăng 21,9%. Bình quân giai đoạn 2006-2009 tăng 18,7%/năm. Kế hoạch 2010, GTSX công nghiệp trên địa bàn đạt 97.220 tỷ đồng, tăng 15% so năm 2009; bình quân giai đoạn 2006- 2010 tăng 18%/năm (mục tiêu nghị quyết giai đoạn 2006 – 2010 tăng 18- 20%/năm; theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006 – 2010 tăng 18,4%/năm).

 

Các tin khác