Đánh giá chung

a)  Những thành tựu đạt được

Công nghiệp nông thôn phát triển đã góp phần quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn.

Năm 2005, GTSXCNNT đạt 5.822,783 tỷ đồng, góp phần tăng cơ cấu GTSXCNNT trong toàn ngành công nghiệp từ 7,68% năm 2001 lên 10,28% năm 2005.

Tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất công nghiệp nông thôn giai đoạn 2000-2005 đạt 25,76%/năm.

Việc đẩy mạnh phát triển kinh tế công nghiệp nông thôn, thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư trong nước đã tạo cho công nghiệp nông thôn có tốc độ tăng trưởng cao. Phát triển kinh tế công nghiệp nông thôn góp phần giải quyết việc làm và tạo thu nhập ổn định cho hàng ngàn lao động chuyên nghiệp, thu hút lao động nhàn rỗi, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và đẩy lùi các tệ nạn xã hội ở nông thôn.

Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn đầu tư mới qui trình sản xuất hiện đại góp phần tăng năng suất và chất lượng sản phẩm.

Việc hình thành các cụm công nghiệp địa phương trên địa bàn đã thu hút đầu tư của các nhà đầu tư trong nước phát triển sản xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Tổng số các cụm công nghiệp quy hoạch đến năm 2005 là 32 cụm , với tổng diện tích là 1.444 ha, trong đó số cụm công nghiệp đang hoạt động và đã có quy hoạch chi tiết là 07 cụm, với tổng diện tích là 242 ha.

Việc khai thác và tận dụng các tiềm năng sẵn có của địa phương để tạo ra các sản phẩm có giá trị thực thụ trong sản xuất và xuất khẩu.

Lực lượng lao động địa phương dồi dào, có tay nghề chủ yếu cha truyền con nối đáp ứng cho việc duy trì và phát triển ngành nghề truyền thống của địa phương hiện nay cũng như các năm sau này. Giải quyết việc làm tạo thu nhập cho hàng ngàn lao động. Có một số ngành nghề giải quyết được nhiều lao động ở nhiều địa phương khác nhau, tận dụng lao động nhàn rỗi của nông dân vùng sâu vùng xa như là mây tre lá, gỗ mỹ nghệ, chế biến nông sản.

Nguồn nguyên vật liệu trong nước đáp ứng được cho nhu cầu sản xuất của các cơ sở công nghiệp nông thôn. Một số nguyên liệu khác phải nhập từ nước ngoài để phục vụ nhu cầu sản xuất.

Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ có giá trị cao vì bên cạnh giá trị sử dụng còn mang giá trị vật thể và phi vật thể của văn hóa dân tộc được duy trì và phát triển chủ yếu ở làng nghề truyền thống đã tồn tại hàng trăm năm. Gắn với các ngành nghề truyền thống, thợ giỏi, cha truyền con nối từ đời này sang đời khác.

b) Những tồn tại và nguyên nhân

Các cơ sở sản xuất công nghiệp với quy mô nhỏ và cơ sở vật chất nghèo nàn; phát triển chưa đều cả về ngành nghề và giữa các địa phương; cơ cấu kinh tế nông thôn không đều giữa các địa phương.

Khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế: Các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn ít có cơ hội tham gia xuất khẩu trực tiếp, thường phải qua nhiều khâu trung gian nên không nắm bắt đầy đủ nhu cầu của khách hàng về mẫu mã, chất lượng , giá cả. Hầu hết các cơ sở chỉ làm theo mẫu mã khách hàng yêu cầu . Tự sáng tạo những mẫu mã mới phù hợp với thị hiếu của từng loại khách hàng ở những khu vực khác nhau cũng vượt quá tầm tay của các cơ sở sản xuất. Mặt khác, chưa có hệ thống hỗ trợ nhà nước để tiếp cận với thị trường trong và ngoài nước (cung cấp các thông tin về nhu cầu, giá cả và thị hiếu của người tiêu dùng). Việc tiếp cận thông tin khoa học công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến thiết bị cũng còn nhiều khó khăn.

Trình độ quản lý, tay nghề lao động kém: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật và năng lực quản lý của các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn  còn hạn chế, phần lớn chưa được trang bị những kiến thức cần thiết về quản trị kinh doanh cũng như chưa hiểu biết kỹ pháp luật và chính sách liên quan tới các họat động kinh tế.

Công nghệ, thiết bị của các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn lạc hậu, mức độ cơ khí hóa thấp, năng suất thấp, chất lượng kém, tiêu hao nhiều nguyên liệu, ô nhiễm ngày càng trầm trọng. Năng lực tự đổi mới công nghệ và kỹ thuật của các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn rất thấp, trong khi đó các nguồn hỗ trợ cho sự đổi mới và sự tiếp cận các nguồn hỗ trợ này của các cơ sở là rất hạn chế.

Khu vực công nghiệp nông thôn chưa giải quyết được căn bản vấn đề thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp.

Lao động sản xuất công nghiệp nông thôn nhìn chung có trình độ văn hóa, tay nghề không cao. Phần lớn lao động được học nghề theo lối truyền nghề và kèm cặp trong sản xuất; rất ít được học qua các trường dạy nghề chính quy, mà người làm nhiệm vụ truyền nghề, kèm cặp chỉ dựa trên cơ sở kinh nghiệm, dẫn đến hiệu quả đào tạo thấp, thời gian học kéo dài, hầu như thiếu cán bộ mỹ thuật và kỹ thuật cao.

Cơ sở hạ tầng thấp kém: là cản trở lớn cho công nghiệp nông thôn phát triển. Nhìn chung, các cơ sở sản xuất thường gặp khó khăn về mặt bằng sản xuất, tình trạng phổ biến là sử dụng nhà ở làm xưởng sản xuất. Khi quy mô sản xuất tăng lên hoặc có sử dụng thiết bị, hoá chất đã làm cho môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề; các điều kiện hạ tầng khác đều không đáp ứng yêu cầu như: đường giao thông xấu, điện cung cấp không đều, không có bến bãi tập kết nguyên vật liệu, sản phẩm.

Môi trường bị ô nhiễm nặng nề: từ những hạn chế về công nghệ, thiết bị, mặt bằng sản xuất, trình độ quản lý.....và không có sự quan tâm đến các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường nên đa số cơ sở trong quá trình sản xuất đã gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.

Thiếu vốn đầu tư là khó khăn lớn của các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn trong việc mở rộng và phát triển. Việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng đối với cơ sở còn rất nhiều hạn chế.

Tổ chức sản xuất còn phân tán: việc tổ chức sản xuất phụ thuộc vào trình độ tay nghề của từng người trong gia đình, quy mô nhỏ, khép kín. Tính tư hữu, bảo thủ nghề của từng gia đình, dòng họ được ưu chuộng hơn là việc tổ chức, phân công hợp tác sản xuất. Sự thiếu liên kết về tổ chức, kinh tế (vốn đầu tư), công nghệ, kỹ thuật đã hạn chế khả năng phát triển. Các mô hình kinh tế tập thể như hợp tác xã, tổ hợp tác, hiệp hội ngành nghề dù có nhiều nỗ lực trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh nhưng vẫn còn nhỏ lẻ, chưa tập trung trở thành những đơn vị mạnh hỗ trợ cho công nghiệp nông thôn phát huy tiềm năng sẵn có của mình.

Giai đoạn 2001-2005, cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp nông thôn tăng nhanh so với khu vực kinh tế nhà nước. Ngoài nguyên nhân do phát huy khả năng đầu tư trong nước theo Luật doanh nghiệp, trong đó còn có nguyên nhân tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước chuyển sang doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp.

Tiến độ thực hiện quy hoạch các cụm công nghiệp địa phương còn chậm.

Chính sách của nhà nước còn bất cập, chưa đồng bộ: Nhìn chung, chưa có đủ thể chế, chính sách đồng bộ trợ giúp các cơ sở phát triển và thiếu một hệ thống tổ chức thống nhất xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương để chỉ đạo, hướng dẫn và quản lý.Chưa có quy hoạch phát triển công nghiệp nông thôn; các chính sách về đất đai, đào tạo nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và vốn đầu tư còn nhiều bất cập, chưa thật sự tạo điều kiện để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tế sản xuất.

Sản phẩm mới
Logo doanh nghiệp