KẾT QUẢ 05 NĂM THỰC HIỆN

CÔNG TÁC KHUYẾN CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2005 -2009

I. CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHUYẾN CÔNG

1. Công tác xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về khuyến công ở địa phương:

Sau 05 năm triển khai thực hiện hoạt động khuyến công trên địa bàn Tỉnh, Sở Công Thương Đồng Nai đã trình và được UBND tỉnh phê duyệt các chương trình, đề án như sau: Đề án khôi phục và phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006-2010; Chương trình phát triển mạng lưới cơ khí sửa chữa máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2006-2010; Đề án công tác khuyến công tại các khu tái định cư huyện Long Thành và các địa phương khác trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; Chương trình khuyến công giai đoạn 2006-2010; Đề án khôi phục và phát triển nghề dệt thổ cẩm tại xã Tà Lài huyện Tân Phú; nghề đúc gang tại xã Thạnh Phú huyện Vĩnh Cửu; nghề sản xuất, chế biến nấm các loại trên địa bàn Thị xã Long Khánh đến năm 2012; nghề mây tre đan trên địa bàn huyện Định Quán giai đoạn 2008-2013; nghề gỗ mỹ nghệ trên địa bàn huyện Trảng Bom giai đoạn 2008-2013; Xây dựng quy chế quản lý và sử dụng kinh phí khuyến công trên địa bàn tỉnh; Quy định xét tặng các danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi, người có công đưa nghề về địa phương; Quy định bình chọn, xét thưởng sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu của tỉnh Đồng Nai; Xây dựng Website Trung tâm Khuyến công.

Năm 2010, hoạt động khuyến công của tỉnh đang tiếp tục xây dựng 02 đề án “Phát triển nghề tre, trúc trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu” và đề án “Phát triển nghề gỗ mỹ nghệ trên địa bàn huyện Xuân Lộc”.

2. Tổ chức hệ thống khuyến công ở địa phương:

2.1. Về bộ máy tổ chức của Trung tâm Khuyến công:

Sau khi Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 9/6/2004 của Chính phủ, Chỉ thị số 16/2004/CT-BCN ngày 22/9/2004 của Bộ Công Nghiệp được ban hành, UBND tỉnh Đồng Nai đã Quyết định thành lập Trung tâm Khuyến công thuộc Sở Công Nghiệp (nay là Sở Công Thương) tại Quyết định số 5504/QĐ.CT.UBT ngày 12/11/2004, và Trung tâm chính thức đi vào hoạt động ngày 02/01/2005.

Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Khuyến công gồm: Ban Lãnh đạo và 03 phòng chuyên môn nghiệp vụ. Năm 2005, là năm đầu tiên đi vào hoạt động chủ yếu là ổn định tổ chức, chuẩn bị cơ sở vật chất, và nắm tình hình phát công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn. Bước đầu chỉ có 6 cán bộ, đến nay số biên chế được tỉnh giao là 16 người để tổ chức và triển khai thực hiện các nhiệm vụ khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn trên địa bàn, ngoài ra đơn vị còn tuyển dụng thêm 03 hợp đồng lao động để thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, tổng số là 19 người. Đến năm 2010, sau khi sắp xếp lại cơ cấu tổ chức theo Thông tư số 18/2008/TT-BCT ngày 19/12/2008, Trung tâm Khuyến công Đồng Nai gồm có Ban Giám đốc và 04 phòng chuyên môn nghiệp vụ. Về trình độ: Trên đại học: 01, Đại học: 09; Cao đẳng: 01; Trung cấp: 04 người, còn lại: 03 người.

2.2. Hệ thống khuyến công viên và cộng tác viên cấp xã:

Sở Công Thương Đồng Nai đã chỉ đạo và giao cho Trung tâm Khuyến công làm đầu mối quản lý và tổ chức các hoạt động khuyến công trên cơ sở phối hợp với Phòng Kinh tế/Công thương của các địa phương. Hiện tại các xã, thị trấn đều có cán bộ kiêm nhiệm theo dõi công tác khuyến công.

2.3. Các hoạt động phối hợp triển khai:


Trên cơ sở chương trình phối hợp của cấp Bộ, Sở Công Thương Đồng Nai đã tiến hành ký kết chương trình phối hợp với các ngành của Tỉnh, gồm: Liên Minh Hợp tác xã Đồng Nai, Tỉnh Đoàn Đồng Nai, Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Nai và giao cho Trung tâm Khuyến công thực hiện các nội dung phối hợp đã ký kết. Ngoài ra, trong triển khai thực hiện công tác khuyến công trên địa bàn, ngành Công Thương đã chủ động phối hợp với Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam chi nhánh phía Nam, Hội Nông dân, Phòng Kinh tế/Công Thương, Trung tâm Dạy nghề các huyện, thị xã Long Khánh và tp Biên Hòa.

3. Các hoạt động quản lý Nhà nước khác:


Phối hợp với các Sở, Ban ngành chức năng của tỉnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ và kế hoạch số 257/KH-SCT của Sở Công Thương nhằm góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế trong khu vực công nghiệp nông thôn.

Phối hợp với các địa phương và doanh nghiệp, cơ sở công nghiệp nông thôn triển khai Nghị quyết 26-NQ/TW của BCH TW Đảng (khóa X) và Kế hoạch 97-KH/TU ngày 29/12/2008 của Tỉnh ủy về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” năm 2009.

4. Đánh giá công tác quản lý, điều hành của Bộ Công Thương và chính quyền địa phương:


Trong thời gian qua công tác quản lý, điều hành của Bộ Công Thương, và UBND tỉnh Đồng Nai đã hết sức quan tâm, khuyến khích hỗ trợ và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân trên địa bàn đầu tư sản xuất, phát triển công nghiệp nông thôn thông qua các cơ chế, chính sách được cụ thể hóa. Nhờ vậy trong 05 năm qua số doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của tỉnh Đồng Nai, đặc biệt là khu vực công nghiệp nông thôn không ngừng tăng trưởng về số lượng lẫn chất lượng; Công tác khuyến công cũng từ đó thuận lợi hơn trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch hàng năm.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG KHUYẾN CÔNG:

1. Kết quả thực hiện hoạt động khuyến công theo Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 9/6/2004 và Quyết định số 136/2007/QĐ-TTg ngày 20/8/2007


1.1. Về hỗ trợ đào tạo, tập huấn:


Tổ chức đào tạo nghề cho lao động thuộc các nghề mây tre đan, gỗ mỹ nghệ, gốm mỹ nghệ, cơ khí, may mặc, dệt thổ cẩm… tại các huyện, thành phố như: Định Quán, Biên Hòa, Xuân Lộc, Tân Phú, Trảng Bom, Vĩnh Cửu, Cẩm Mỹ, Long Thành và Thống Nhất nhằm bổ sung nguồn nhân lực có tay nghề cho các cơ sở, doanh nghiệp thuộc các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống. Tổng số lao động được đào tạo giai đoạn 2005-2009 là 3.007 người. Tổng kinh phí hỗ trợ là 2.278,1 triệu đồng, trong đó khuyến công địa phương là 1.259,7 triệu đồng, kinh phí khuyến công quốc gia là 1.018,4 triệu đồng. Ngoài ra, nguồn kinh phí đóng góp của các cơ sở công nghiệp nông thôn là 2.619,8 triệu đồng.

Hỗ trợ tổ chức tập huấn cho cán bộ khuyến công của các huyện trên địa bàn Tỉnh cho 186 lượt người tham dự, với tổng số tiền hỗ trợ là: 21,7 triệu đồng từ nguồn kinh phí khuyến công địa phương.

1.2. Về công tác hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm:

 Ngành Công Thương Đồng Nai đã tổ chức 02 hội chợ triển lãm, đó là hội chợ triển lãm công nghiệp phụ trợ - liên kết doanh nghiệp năm 2007 tại Đồng Nai với 30 gian hàng trưng bày sản phẩm của các doanh nghiệp thuộc các ngành: Cơ khí, điện - điện tử, dệt may, giày da; và tổ chức hội chợ triển lãm “Làng nghề - Công nghiệp nông thôn và Thương mại Đồng Nai năm 2009” tại huyện Trảng Bom với 158 gian hàng tham gia.

Vận động và hỗ trợ các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn tham gia các hội chợ triễn lãm được tổ chức trong và ngoài tỉnh, với tổng số tiền hỗ trợ là: 745,74 triệu đồng từ nguồn kinh phí khuyến công địa phương.

Giới thiệu, quảng bá thông tin, hình ảnh cho trên 500 cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn và nhiều sản phẩm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khác của Đồng Nai;. Hiện nay, đang tiếp tục cập nhật thông tin từ các doanh nghiệp trong tỉnh và các địa phương lân cận. Ngoài ra, tạo điều kiện cho 05 doanh nghiệp tham dự diễn đàn giới thiệu cơ hội kinh doanh với đoàn doanh nghiệp vùng Kansai Nhật Bản diễn ra tại TP Hồ Chí Minh, nhằm giúp các doanh nghiệp có được cơ hội tìm kiếm đối tác kinh doanh, hợp tác đầu tư, mở rộng thị trường.

1.3. Về công tác tư  vấn, hỗ trợ, nâng cao năng lực quản lý:

 Tư vấn, hỗ trợ đến các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn trở thành vệ tinh cho các doanh nghiệp sản xuất, thương mại lớn trong việc sơ chế nguyên liệu đầu vào, gia công lắp ráp sản phẩm,… Tổ chức các buổi hội thảo về kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, hội nhập kinh tế quốc tế, môi trường, công nghệ kỹ thuật mới, nhằm trao đổi, phổ biến, nghiên cứu áp dụng vào các cơ sở công nghiệp nông thôn;

Hướng dẫn, tư vấn cho Phòng Kinh tế/Công Thương một số huyện trong việc xây dựng chương trình phát triển làng nghề trên địa bàn huyện giai đoạn 2007-2010 và điều tra khảo sát, đánh giá hiện trạng CN-TTCN trên địa bàn.

Hướng dẫn, tư vấn thành lập mới các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nông thôn, ưu tiên phát triển các cơ sở sản xuất thuộc các ngành nghề TTCN có khả năng phát triển theo đề án khôi phục và phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống và chương trình phát triển mạng lưới cơ khí sửa chữa phục vụ nông nghiệp nông thôn.

Mở các lớp về khởi sự doanh nghiệp, tăng cường khả năng kinh doanh và các chuyên đề khác liên quan đến quản lý doanh nghiệp cho cán bộ quản lý ở các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn, với 1.093 lượt người tham dự, tổng kinh phí hỗ trợ tập huấn là 729 triệu đồng.

Tư vấn, hướng dẫn cho các doanh nghiệp đăng ký tham gia chương trình sản phẩm chủ lực của Tỉnh năm 2009 và triển khai đề án đào tạo nguồn nhân lực với tổng kinh phí hỗ trợ là 500 triệu đồng từ nguồn kinh phí khuyến công. Hiện đang tiếp tục hướng dẫn tư vấn cho các doanh nghiệp xây dựng đề án tham gia Chương trình sản phẩm chủ lực năm 2010.

1.4. Về phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn:

Được sự chấp thuận của UBND tỉnh Đồng Nai, hàng năm ngành Công Thương đã tổ chức cuộc thi sáng tạo kiểu dáng hàng thủ công mỹ nghệ, nhằm mục đích khích lệ sự sáng tạo của các nhà thiết kế, các tổ chức, các nhân, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất CNNT… tạo ra những sản phẩm mới, phù hợp với thị hiếu khách hàng trong và ngoài nước, gần với cuộc sống hiện đại, đồng thời vẫn mang đậm nét truyền thống dân tộc, được thể hiện qua sự khéo léo của đôi bàn tay người thợ thủ công.

Nhằm khuyến khích động viên, phát huy vai trò của các nghệ nhân, thợ giỏi, người có công đem nghề mới về địa phương trong việc xây dựng, khôi phục và phát triển ngành nghề TTCN truyền thống trên địa bàn. Ngành Công thương Đồng Nai đã tổ chức xét tặng các danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi, người có công đem nghề mới về địa phương. UBND tỉnh đã công nhận kết quả bình xét có: 01 danh hiệu nghệ nhân, 01 danh hiệu người có công đưa người mới về địa phương và 40 danh hiệu là thợ giỏi, thuộc các ngành nghề: Gốm mỹ nghệ, gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, chế tác đá, đúc đồng, thợ mộc.

1.5. Về xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật:

 Tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu: một số công nghệ bảo quản và chế biến nông sản sau thu hoạch; dây chuyền giết mổ công nghiệp; công nghệ chế biến ruợu vang điều, cồn điều; công nghệ chế biến các sản phẩm từ xoài; công nghệ sấy nấm mèo; kỹ thuật xử lý chất lượng rượu.... với 914 lượt người tham dự và tổng kinh phí hỗ trợ là 77,5 triệu đồng từ nguồn kinh phí khuyến công địa phương.

1.6. Về công tác tuyên truyền:

Ngành Công Thương Đồng Nai xác định cần phải đẩy mạnh việc thực hiện công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau, như: Phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Nai để thực hiện các chuyên đề khuyến công theo định kỳ hàng tháng, với chất lượng chương trình ngày càng được nâng cao, phối hợp với Tạp chí Công nghiệp thực hiện chương trình tuyên truyền Công Thương Đồng Nai - hội nhập kinh tế thế giới trên Đài truyền hình VTV1 - VTV4; Định kỳ hàng quý bản tin Khuyến công được xây dựng và phát hành kịp thời, ngày càng được đổi mới về nội dung lẫn hình thức; Xây dựng website Trung tâm Khuyến công ĐN, nhằm giới thiệu quảng bá hình ảnh và năng lực sản xuất của trên 500 cơ sở sản xuất CNNT, cập nhật và phản ánh các nội dung hoạt động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn, các hoạt động khuyến công của địa phương, hướng dẫn kiến thức quản lý doanh nghiệp, thông tin khoa học kỹ thuật, thị trường,…; Phát hành tờ bướm, phát hành đĩa CD giới thiệu về ngành nghề tiểu thủ công nghiệp của Đồng Nai và giới thiệu về hoạt động khuyến công của Tỉnh. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền hoạt động khuyến công thông qua các tạp chí công nghiệp, các tài liệu liên quan đến các Huyện, thị xã Long Khánh và thành phố Biên Hòa. Kinh phí khuyến công địa phưong hỗ trợ cho công tác tuyền qua 05 năm 2005-2009 là 797,64 triệu đồng.

1.7. Về tổ chức khảo sát, học hỏi kinh nghiệm, tìm kiếm đối tác kinh doanh:

Tổ chức và hỗ trợ kinh phí cho 05 đoàn đi khảo sát, tìm hiểu thị trường, đối tác kinh doanh, học hỏi kinh nghiệm về phát triển sản xuất kinh doanh, các mô hình sản xuất kinh doanh điển hình tiên tiến, các lĩnh vực ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống cho các Phòng Kinh tế/Công Thương các huyện và các cơ sở công nghiệp nông thôn trên địa bàn tại một số tỉnh bạn, với kinh phí hỗ trợ là 100,4 triệu đồng.

Ngoài ra, còn tổ chức tiếp và làm việc với đoàn giáo viên chương trình SIYB của Trung Quốc nhằm trao đổi kinh nghiệm trong việc đào tạo chương trình SIYB. Tiếp các đoàn Sở Công Thương, Trung tâm Khuyến công của các tỉnh bạn trao đổi học hỏi kinh nghiệm công tác khuyến công và tiếp xúc một số cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn, qua đó tạo điều kiện giúp cho các cơ sở tìm nguồn nguyên liệu để sản xuất, và giải quyết đầu ra cho sản phẩm.

2. Kết quả triển khai các đề án được UBND tỉnh phê duyệt:

Sở Công Thương Đồng Nai đã xây dựng và trình UBND tỉnh phê duyệt các chương trình, đề án nhằm đẩy mạnh phát triển công nghiệp nông thôn, nhất là việc khôi phục và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống trên địa bàn. Sau khi được UBND tỉnh phê duyệt, Sở đã phối hợp với các Sở ngành có liên quan để tổ chức triển khai thực hiện, kết quả đạt được như sau:

2.1. Về Chương trình phát triển mạng lưới cơ khí sửa chữa phục vụ nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2006-2010:

Đã tổ chức triển khai 02 điểm cơ khí sửa chữa tại huyện Tân Phú và Định Quán, phối hợp với Trung tâm Dạy nghề, Phòng Công Thương 02 huyện mở các lớp đào tạo nghề cơ khí sửa chữa máy nông cụ cho 268 người, đồng thời tổ chức khảo sát tình hình sử dụng máy nông cụ và nhu cầu sửa chữa của các địa phương để triển khai kế hoạch hàng năm.

2.2. Đề án khuyến công tại các khu tái định cư trên địa bàn huyện Long Thành, Nhơn Trạch và các địa phương khác trên địa bàn tỉnh Đồng Nai:


Đã phối hợp cùng UBND huyện Long Thành, Nhơn Trạch tiến hành khảo sát nhu cầu chuyển đổi nghề tại các khu tái định cư trên địa bàn huyện, tổ chức tuyên truyền phổ biến các chính sách khuyến công tại khu tái định cư, hướng dẫn một số nội dung trong chương trình khởi sự doanh nghiệp đến với người dân tái định cư, tư vấn chuyển đổi nghề nghiệp, điều tra khảo sát nhu cầu, bàn biện pháp để hỗ trợ người dân tại các khu tái định cư.... Ngoài ra, còn chủ trì phối hợp với Phòng Kinh tế huyện Long Thành, Hội Nông dân xã Long Hưng và Liên Hiệp HTX DVNN - TH Đồng Nai tổ chức cho 40 hộ thuộc đối tượng có nhu cầu chuyển đổi nghề tại các khu tái định cư khảo sát, học tập kinh nghiệm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, và sản xuất rượu bưởi.

Qua khảo sát, điều tra nhu cầu chuyển đổi ngành nghề của các hộ dân tại khu tái định cư, nhu cầu ngành nghề rất phân tán và nhỏ lẽ, mà chủ yếu là các nghề như: uốn tóc, mua bán nhỏ, mở quán ăn uống, hoặc các dịch vụ khác ... được người dân quan tâm nhưng không thuộc lĩnh vực hỗ trợ khuyến công. Hiện nay đa phần các khu tái định cư vẫn chưa lấp đầy, một bộ phận người dân sinh sống tại khu tái định cư không thuộc đối tượng bố trí tái định cư, một số hộ thuộc diện tái định cư nhưng vẫn còn đất để sản xuất, nên nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp rất hạn chế. Một thực tế khác là những người ở tuổi lao động và có trình độ từ cấp II trở lên đã vào làm công nhân tại các khu công nghiệp, số người dân còn lại đa số là những người lớn tuổi và trình độ học vấn thấp, do đó nhu cầu đào tạo chuyển đổi nghề cũng gặp rất nhiều khó khăn.

2.3. Các đề án khôi phục và phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống: Kết quả triển khai thực hiện các đề án như sau:

a.  Đề án dệt Thổ cẩm:  xã Tà Lài - huyện Tân Phú:

Huyện đã thành lập hội đồng đền bù, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị triển khai xây dựng nhà xưởng vào quý II/2010.

b.  Đề án gỗ mỹ nghệ - huyện Trảng Bom:

Hiện nay huyện Trảng Bom đã thống nhất chọn địa điểm hơn 02ha thuộc xã Bình Minh, công tác đo đạc và xác định ranh giới đất đã hoàn tất. Huyện đang lựa chọn đơn vị để thỏa thuận địa điểm, lập dự án đầu tư.

c.   Đề án mây tre đan - huyện Định Quán:

UBND huyện Định Quán đã thống nhất chọn địa điểm 2,3ha giai đoạn 1 tại xã Gia Canh để triển khai đề án. Hiện UBND huyện đã chỉ đạo các phòng ban chức năng lập thủ tục giới thiệu địa điểm và đàm phán chọn đơn vị để lập dự án đầu tư.

d.  Đề án đúc gang - huyện Vĩnh Cửu:

Huyện đã triển khai quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 diện tích khoảng 4,8 ha tại xã Tân An trình Sở Xây dựng thẩm định và đã được UBND tỉnh phê duyệt, đồng thời tiến hành lựa chọn chủ đầu tư để lập dự án đầu tư.

e.   Đề án nấm - thị xã Long Khánh:

Thị xã Long Khánh đã chọn khoảng 30 ha tại xã Suối Tre để triển khai đề án và đang lập thủ tục thỏa thuận địa điểm trình Sở Kế Hoạch - Đầu tư xem xét.

2.4. Kinh phí xây dựng, quản lý triển khai các đề án:

 Kkinh phí xây dựng, quản lý triển khai các đề án duy trì và phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống là 525 triệu đồng từ nguồn kinh phí khuyến công địa phương, trong đó kinh phí xây dựng các đề án là 521,9 triệu đồng.

3. Về hiệu quả hoạt động khuyến công:

Công tác khuyến công qua 05 năm 2005-2009 đã góp phần đáng kể vào việc phát triển công nghiệp nông thôn của tỉnh Đồng Nai. Tính đến năm 2009 toàn Tỉnh có hơn 10.874 cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn, tăng 1.214 cơ sở so với năm 2005, giải quyết việc làm cho 92.680 lao động thường xuyên và khoảng 44.980 lao động không thường xuyên. Giá trị sản xuất công nghiệp nông thôn năm 2009 đạt khoảng 9.563 tỷ đồng, chiếm 11,23% trong tổng giá trị công nghiệp của tỉnh, tăng 2,3 lần so với năm 2005. Thu nhập bình quân của người lao động từ 1.200.000-1.500.000 đồng/người/tháng

Nhờ hoạt động khuyến công, nhiều ngành nghề truyền thống ở Đồng Nai đã dần được khôi phục và phát triển như: nghề mây tre đan, nghề dệt thổ cẩm, gỗ mỹ nghệ, gốm mỹ nghệ, đúc đồng, đúc gang,... giải quyết ngày càng nhiều lao động ở khu vực nông thôn.

Hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 05 năm qua đã đạt được một số kết quả nhất định, trong đó, một số kết quả đạt được là cơ sở, là cốt lõi cho việc thực hiện công tác khuyến công trong thời gian tới. Các hoạt động khuyến công trọng tâm trong giai đoạn 2005-2009 bao gồm: Đào tạo, tập huấn; Tư vấn, hỗ trợ; Công tác hội chợ và tham gia hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm thị trường; Trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ. Tổng kinh phí khuyến công hỗ trợ cho các cơ sở công nghiệp nông thôn trên địa bàn tình Đồng Nai giai đoạn 2005-2009 là 5.557,8 triệu đồng. (chưa tính kinh phí thường xuyên chi cho bộ máy hoạt động của Trung tâm Khuyến công). Ngoài ra, các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn đã tự bỏ ra cho hoạt động khuyến công trên 20 tỷ đồng.

+    Các hoạt động khuyến công được tổ chức bằng nhiều hình thức như: trực tiếp và gián tiếp đã hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn trên địa bàn phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản lý, năng lực máy móc thiết bị, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm. Thu hút và giải quyết việc làm cho nhiều lao động thuộc các ngành nghề như: may mặc, thủ công mỹ nghệ, chế biến gỗ, mây tre đan, đúc đồng, gốm sứ, chế biến nông sản thực phẩm. Qua 5 năm triển khai, các cơ sở công nghiệp nông thôn thụ hưởng chính sách khuyến công đã tăng trưởng đáng kể về doanh thu, nâng cao chất lượng và số lượng nguồn nhân lực. Một số đơn vị ngành mây tre đan có mức tăng trưởng khá như: Hợp tác xã TTCN Định Quán, Hợp tác xã TTCN Hố Nai, Hợp tác xã TTCN Tân Hiệp, năm 2009 doanh thu bình quân đạt 6 tỷ đồng, tăng 3,75 lần so với năm 2005.

Công tác đào tạo nghề đã giúp các cơ sở công nghiệp nông thôn tăng từ 60-80% tỷ lệ lao động được đào tạo tại chỗ, 100% lao động sau đào tạo được bàn giao cho đơn vị thụ hưởng. Trong tổng số 3.007 lao động được hỗ trợ đào tạo nghề từ nguồn kinh phí khuyến công, có 1.954 người làm việc trực tiếp tại cơ sở công nghiệp nông thôn (chiếm tỷ lệ 65%), số còn lại thực hiện gia công tại nhà (chủ yếu là ngành mây tre đan).

Hoạt động tập huấn kiến thức quản trị doanh nghiệp đã góp phần đáp ứng nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực và kỹ năng quản lý cho các cơ sở công nghiệp nông thôn, khuyến khích các doanh nghiệp tiềm năng đầu tư sản xuất công nghiệp - TTCN. Công tác đào tạo nguồn nhân lực quản lý giúp các cơ sở công nghiệp nông thôn tăng tỷ lệ cán bộ được trang bị và nâng cao kiến thức quản lý lên 20-25%.

Thông qua các hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm công tác khuyến công đã giúp các cơ sở công nghiệp nông thôn tìm kiếm các đối tác kinh doanh và xây dựng cơ sở vệ tinh tại các địa phương trong và ngoài tỉnh.

III. NHẬN XÉT CHUNG:

1. Kết quả đạt được:

Được sự quan tâm của UBND tỉnh, và các Sở ngành liên quan đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho Ngành Công Thương có cơ sở vật chất ban đầu, ổn định tổ chức để từng bước đi vào họat động triển khai nhiệm vụ khuyến công. Thời gian đầu, nhiệm vụ trọng tâm được xác định là tập trung công tác phối hợp với từng địa phương và cơ sở đóng trên địa bàn, từng bước thu thập thông tin và nắm tình hình, nhu cầu thực tế, từ đó cùng với các huyện, thị xã Long Khánh và thành phố Biên Hòa xây dựng kế hoạch và chương trình khuyến công hàng năm để thực hiện công tác hỗ trợ, phát triển công nghiệp nông thôn.

Hoạt động Khuyến công ở Đồng Nai đã từng bước khẳng định được vai trò, vị thế trong cộng đồng cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn và đạt được một số kết quả đáng khích lệ như: số cơ sở, doanh nghiệp sản xuất CN-TTCN ở Đồng Nai không ngừng tăng trưởng cả về số lượng, quy mô, chất lượng, trình độ tổ chức quản lý và tay nghề của người lao động được nâng lên đáng kể. Công tác đào tạo nghề luôn gắn với đơn vị thụ hưởng và xuất phát từ nhu cầu của cơ sở công nghiệp nông thôn nên thuận lợi trong việc bố trí đầu ra sau đào tạo.

Mặt khác, việc triển khai thực hiện công tác khuyến công trong những năm qua đã giúp cho lực lượng cán bộ khuyến công đúc kết được nhiều kinh nghiệm, trình độ chuyên môn của cán bộ khuyến công từng bước được nâng lên rõ rệt. Mối quan hệ gắn kết giữa Trung tâm Khuyến công Đồng Nai với các phòng Kinh tế/ Công Thương và các Trung tâm Khuyến công của các tỉnh bạn là cơ sở cho việc trao đổi kinh nghiệm và thực hiện tốt các nhiệm vụ khuyến công.

2. Tồn tại

Trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của cán bộ làm công tác khuyến công từ cấp tỉnh đến cấp xã có nâng lên nhưng còn nhiều hạn chế. Lực lượng cán bộ làm công tác khuyến công ở các huyện chưa đủ mạnh, có nhiều lúc, nhiều nơi cán bộ chưa hiểu rõ vai trò của khuyến công nên việc thực hiện còn nhiều lúng túng. Cán bộ khuyến công cấp Huyện và cấp xã thường xuyên thay đổi, dẫn đến ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện công tác khuyến công trên địa bàn.

Một số nội dung khuyến công tiến độ thực hiện chậm so với kế hoạch đã đề ra do thời gian phê duyệt các đề án kéo dài và ảnh hưởng của suy giảm kinh tế toàn cầu đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn.

Việc xây dựng nội dung kế hoạch khuyến công hàng năm của các địa phương trong tỉnh chưa sát với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, do đó khi triển khai thực hiện kế hoạch gặp rất nhiều khó khăn.

Thông tư hướng dẫn thực hiện khuyến công chậm được ban hành, nội dung và mức hỗ trợ chưa thật sự hấp dẫn kích thích doanh nghiệp mạnh dạng đầu tư mở rộng sản xuất. Mặt khác thủ tục hỗ trợ còn nhiều phức tạp và chưa lường hết được những phát sinh trong thực tế triển khai.

3. Nguyên nhân

Công tác tuyên truyền về chính sách khuyến công tuy thực hiện thường xuyên nhưng nhiều cơ sở công nghiệp nông thôn vẫn còn chưa thật sự quan tâm và hiểu rõ ý nghĩa của các nội dung hỗ trợ. Bên cạnh đó công tác khuyến công ở cơ sở còn kiêm nhiệm, chưa có cán bộ chuyên trách, lại thường xuyên thay đổi.

Do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế toàn cầu dẫn đến thu hẹp sản xuất của một số cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn.

Việc bố trí nguồn vốn đầu tư, thủ tục đất đai, tiến độ giải phóng mặt bằng và công tác vận động nhà đầu tư chưa kịp thời.

Do đối tượng trong độ tuổi lao động tại các khu tái định cư đã có việc làm, nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp nghề rất đa dạng, không tập trung và nhiều ngành nghề không thuộc lĩnh vực hỗ trợ khuyến công.

Công tác khảo sát nhu cầu hoạt động chưa được triển khai đúng mức tại các địa phương, việc tiếp cận các doanh nghiệp công nghiệp nông thôn còn hạn chế.

Cơ sở vật chất của Trung tâm Khuyến công hiện nay chưa đáp ứng so với nhu cầu thực tiễn, nhất là diện tích mặt bằng để triển khai công tác giới thiệu sản phẩm, đào tạo, thiết kế và hỗ trợ sản xuất sản phẩm mẫu...


Sản phẩm mới
Logo doanh nghiệp