|
Hiện trạng nghành nghề gỗ mỹ nghệ:
-
Xã Hố Nai 3 có
09 cơ
sở gỗ mỹ nghệ chuyên sản xuất thuyền buồm, xe ô tô, máy bay….các cơ sở này tập
trung trong cùng một ấp, thường thì các cơ sở nhỏ gia công các chi tiết rồi giao
lại cho các cơ sở lớn như Ngô Tiến Thế, Tô Văn Sáng, Ngô Đình Hiếu hoàn chỉnh
sản phẩm. Sản
phẩm làm ra có thị trường tiêu thụ tại TP.HCM và nước ngoài. Các cơ sở nhỏ thì
có nhu cầu mở rộng sản xuất nhưng còn gặp khó khăn về vốn. Các cơ sở lớn thì có
nhu cầu tìm khách hàng và trưng bày sản phẩm. Bên cạnh đó còn có 02 cơ sở điêu
khắc gỗ mỹ nghệ chuyên điêu khắc tượng tôn giáo, tượng nghệ thuật, bàn trang
điểm....có khách hàng chủ yếu là Việt kiều. Cơ sở có nhu cầu về khách hàng và
trưng bày sản phẩm.
-
Xã Bình Minh có 36 cơ sở và 01 HTX ( Bình Minh
) gỗ mỹ nghệ chuyên sản xuất thuyền buồm, ô tô, máy bay.....trong đó có 02 cơ sở
có qui mô tương đối với khoảng 20 lao động là Nguyễn Thành Nhân và Trần Văn
Giáo. Cũng có khách hàng ở TP.HCM nhưng chủ yếu vẫn là nước ngoài. Các cơ sở còn
gặp khó khăn chung về đầu ra nên có nhu cầu tìm khách hàng.
-
Xã Giang Điền có 02 cơ sở gỗ mỹ nghệ chuyên
sản xuất thuyền buồm với qui mô hộ gia đình. Sản phẩm tiêu thụ chủ yếu do đơn
đặt hàng của Viêt kiều. Cơ sở cũng muốn phát triển thêm nhưng còn gặp khó khăn
về vốn, đầu ra và thợ lành nghề.
-
Xã Quảng Tiến có 12 cơ sở thuyền buồm mỹ nghệ
cũng tiêu thụ ở nước ngoài nhưng đầu ra không ổn định. Các cơ sở có nhu cầu tìm
khách hàng.
Nhận xét:
-
Ngành nghề gỗ mỹ nghệ trên địa bàn huyện Trảng Bom có xu hướng
mai một. Trước đây, chỉ riêng xã Bình Minh đã có khoảng 90 cơ sở thì hiện nay
trên toàn huyện chỉ có khoảng 54 cơ sở. Nguyên nhân là do không có đầu ra hoặc
có thì không ổn định. Thị trường trong nước
thì chỉ có ở TP.HCM nhưng thu hồi lại vốn rất khó khăn còn thị trường nước ngoài
thì khan hiếm hoặc qua trung gian nên các cơ sở rất có nhu cầu về tìm đối tác và
quảng bá sản phẩm. Một số cơ sở cũng có ý tưởng nên tập trung thành làng nghề để
có thể nhận đơn đặt hàng lớn nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên chưa thể tập
trung được.
Hiện
trạng ngành nghề mộc gia dụng:
-
Xã Hố Nai 3 có 22 cơ sở sản xuất mộc gia dụng trong đó có 02 cơ
sở Nguyễn Tình và Nguyễn Văn Hoàng chuyên đóng bàn, ghế, salon cao cấp...là
tương đối lớn với khoảng 20-30 lao động /cơ
sở có thị trường tiêu thụ tại Biên Hòa, Bình Dương, TP.HCM. Các cơ sở còn lại
thì nhỏ với khoảng 03-04 lao động/cơ sở chủ yếu là người nhà có thị trường tiêu
thụ nhỏ, lẽ. Các cơ sở có nhu cầu phát trển thêm nhưng còn gặp khó khăn về mặt
bằng sản xuất và vốn.
-
Xã Bắc Sơn có 02 cơ sở cưa xẻ gỗ tạp và một cơ
sở mộc chuyên đóng tủ, bàn, ghế tiêu thụ theo đơn đặt hàng tại địa phương.Các cơ
sở còn gặp khó khăn về mặt bằng sản xuất và vốn để trang bị thêm máy móc.
-
Xã Trung Hòa có 01 cơ sở cưa xẻ gỗ tạp chủ yếu
cưa xẽ gia công cho người dân tại địa phương. Cơ sở cũng cần vốn để phát triển
thêm.
-
Xã Sông Trầu có 04 cơ sở mộc gia dụng chuyên
đóng bàn, ghế, tủ, giường....tiêu thụ tại địa phương theo đơn đặt hàng. Các cơ
sở còn gặp khó khăn về thợ lành nghề, vốn đêtrang bị thêm máy và đầu ra.
-
Thị trấn Trảng Bom có 01 cơ sở mộc gia dụng
cũng chuyên đóng bàn ghế, tủ, giường, salon... tiêu thụ chủ yếu trong địa bàn
huyện. Cơ sở muốn phát triển thêm nhưng còn gặp khó khăn về vốn và thợ có tay
nghề.
-
Xã Bình Minh có 01 cơ sở cưa xẻ gỗ tạp và 01
cơ sở cơ sở mộc gia dụng với qui mô nhỏ chủ yếu tiêu thụ tại địa phương. Các cơ
sở có nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất.
Hiện trạng ngành nghề xay xát:
-
Như đã nói ở trên do diện tích cây nông nghiệp
ngắn ngày giảm mạnh, chăn nuôi thua lỗ do dịch bệnh nên ngành nghề xay xát cũng
giảm theo, cũng còn một vài cơ sở xay xát nhưng chỉ ở dạng xay gia công. Ở xã
Bắc Sơn có 02 cơ sở xay xát chuyên thu mua lua, bắp về xay trộn rồi bán lại tại
đại phương, các vùng lân cận, Phan Thiết, TP.HCM. Ở ấp Tân Bắc xã Bình Minh có
01 cơ sở xay xát có qui mô tương đối vốn khoảng 2,5 tỷ đồng chuyên chuyên thu
mua bắp, mì tại địa phương và các tỉnh khác về sấy khô rồi bán lại cho các công
ty chế biến thức ăn gia súc.
Nhận xét:
-
Do nông sản rớt giá và chăn nuôi thua lỗ nên
ngành nghề xay xát cũng gặp khó khăn các cơ sở còn hoạt động chủ yếu là thu mua
nguyên liệu ở nơi khác về sấy khô hoặc xay xát rồi bán lại cho các công ty lớn
và các tỉnh lân cận. Muốn phát triển ngành nghề xay xát thì trước tiên phải có
diện tích chuyên canh cây nông nghiệp ngắn ngày để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho
sản xuất và cũng cần phải có sự hổ trợ cho ngành chăn nuôi không bị bệnh dịch
cũng như ổn định giá cả, ngành nghề chăn nuôi có phát triển thì ngành nghề xát
mới có thể phát triển được.
Hiện trạng ngành nghề đan lát:
-
Xã Bắc Sơn có 01 cơ sở đan lát với 30 lao động
chủ yếu là người dân địa phương nhận về gia công lúc nông nhàn nhưng chỉ gia
công phân đoạn nhỏ rồi giao lại cho các công ty lớn ở Biên Hòa, TP.HCM hoàn
chỉnh sản phẩm. Cơ sở muốn phát triển thêm để có thể sản xuất hoàn chỉnh sản
phẩm nhưng còn gặp khó khăn về mặt bằng, vốn và tìm đầu ra.
-
Xã Bình Minh có 01 cơ sở đan lát với khoảng 25
lao động tại địa phương tận dụng lúc nông nhàn sản xuất thành phẩm các mặt hàng
mây tre lá tiêu thụ tại Biên Hòa, TP.HCM. Cơ sở muốn mở rộng SX nhưng còn thiếu
vốn và lao động có tay nghề.
-
Xã Giang Điền có 02 cơ sở đan lát với khoảng
40 lao động tại địa phương chủ yêu tận
dụng lúc nông nhàn, sản phẩm tiêu thụ tại
Biên Hòa. Chủ cơ sở muốn mở rộng cơ sở sản xuất để có thể đủ khả năng nhận đơn
đặt hàng lớn nhưng còn gặp khó khăn về mặt bằng.
-
Xã An Viễn có 02 cơ sở đan lát với khoảng 30
lao động tại địa phương chuyên sản xuất các mặt hàng mây tre lá tiêu thụ tại các
công ty lớn ở Biên Hòa. Chủ cơ sở có hướng dạy nghề cho thanh niên tại địa
phương rồi mở rộng qui mô sản xuất nhưng còn thiếu vốn.
-
Xã Thanh Bình có 02 cơ sở đan lát có khoảng
70 lao động tại địa phương chuyên sản xuất các sản phẩm mây tre lá nhưghế, rổ,
kệ....tiêu thụ tại Biên Hòa và TP.HCM.Các cơ sở có nhu cầu tìm đầu ra.
-
Xã Cây Gáo có 02 cơ sở đan lát có khoảng 30
lao động tai địa phương chuyên sản xuất các mặt hàng mây tre lá tiêu thụ tại
Biên Hòa. Cơ sở muốn phát triển thêm nhưng còn gặp khó khăn về đầu ra.
Nhận xét:
-
Ngành nghề đan lát có tìm năng phát triển do
tân dụng được thowif gian nông nhàn của người dân khi chuyển sang trồng cây lâu
năm hay chuyển sang chăn nuôi. Nhưng các cơ sở còn gặp khó khăn về mặt bằng sản
xuất, vốn và đặc biệt là đầu ra.
Hiện trạng các ngành nghề
tiểu thủ công nghiệp khác:
-
Xã Bắc Sơn có 07 lò gạch sản xuất gạch ống,
gạch thẻ tiêu thụ nhỏ lẻ tại địa phương và theo đơn đặ hàng của các công trình
xây dựng.
-
Xã Bình Minh có 11 cơ sở sản xuất tinh bột mì
nhưng hiện tại các cơ sở bột mì này gặp rất nhiều khó khăn về nguyên liệu, thị
trường tiêu thụ bị các sản phẩm bột mì của Tỉnh Tây Ninh chiếm lĩnh về chất
lượng và giá cả nên ngành nghề này đang có nguy cơ mai một. Hiện tại chỉ sản
xuất được 04-05 tháng/năm nên không đáp ứng được việc làm ổn định cho người lao
động, máy móc thiết bị cũ kỹ, chất lượng sản phẩm không cao. Có 03 cơ sở làm bột
khoai, bột bán nhưng cũng đang trong tình trạng tương tự.
-
Xã Giang Điền có 04 cơ sở xay xát qui mô nhỏ,
chỉ xay gia công cho người dân trong vùng.
-
Xã Quảng Tiến có 05 hộ làm bún, giò chả nhưng
với qui mô gia đình, tiêu thụ chủ yếu ở các chợ địa phương, không có ý tưởng
phát triển thêm. Và 01 cơ sở làm mạch nha của ông Huỳnh Trực Sơ có năng
suất 03-04 tấn ngày, tiêu thụ tại TP.HCM nhưng hiện tại cơ sở này phải tạm ngưng
hoạt động do chưa xử lý được nguồn nước thải.
-
Xã Tây Hòa có 01 cơ sở bóc tách hạt điều Đông
An có qui mô tương đối lớn, với khoảng 400 lao động tập trung tại cơ sở, thu
nhập bình quân 30-40 ngàn đồng/ngày/người, đang có hướng mở rộng thêm. Có 07 cơ
sở xay xát, trong đó có 04 cơ sở có qui mô trung bình chuyên thu mua lúa, bắp về
xay xát rồi bán lại tại địa phương và các vùng lân cận. Và có 05 cơ sở ép mía
làm mật đường với khoảng 50 lao động tại địa phương. Nhưng hiện tại do thiếu
nguồn nguyên liệu các cơ sở này chỉ hoạt động cầm chừng khoảng 03 tháng/năm nên
kéo theo tình trạng người lao động bỏ nghề do thu nhập không ổn định, vì vậy các
cơ sở gặp khó khăn về lao động khi trở lại sản xuất.
-
Xã Đông Hòa có 02 cơ sở làm bánh kẹo chuyên
làm các loại bánh bông lan với khoảng 20 lao động có thị trường tiêu thụ ở cá
tỉnh lân cận. Các cơ sở có nhu cầu mở rộng sản xuất và nâng cao máy móc thiết bị
sản xuất. Và có 01 cơ sở hế biến muối bọt với 3 lao động, sản phẩm làm ra tiêu
thụ tại địa phương và các vùng lân cận. Hiện tại cơ sở muốn phát triển thêm và
làm muối iốt nhưng còn gặp khó khăn về mặt bằng sản xuất và xử lí môi trường.
-
Xã Tây Hòa có 01 cơ sở làm bánh tây với 6 lao
động tiêu thụ chủ yếu tại địa phương. Cơ sở không có ý định phát triển thêm vì
đầu ra chưa ổn định. Và 01 cơ sở sản xuất chao nhỏ sản phẩm làm ra chủ yếu tiêu
thụ tại địa phương. Cơ sở có nhu cầu tìm khách hàng.
-
Xã Sông Thao có 01 cơ sở sản xuất chổi cỏ với
khoảng 40 lao động sản phẩm tiêu thụ tại TP.HCM và xuất khẩu. cơ sở muốn phát
triển thêm nhưng còn gặp khó khăn về mặt bằng và vốn để dự trử nguyên liệu.
-
Xã Cây Gáo có 01 cơ sở sấy chuối với 05 lao
động có thị trường tiêu thụ tại Biên Hòa và Hà Nội. Cơ sở còn gặp khó khăn về
đầu ra.
-
Xã Sông Trầu có 02 lò gạch với khoảng 60 lao
động có năng suất 20.000 viên/ngày tiêu thụ tại địa phương và các công trình lao
động. Cơ sở muốn phát triẻn nhưng còn gặp khó khăn về nguyên liệu và lao động.
-
Xã An Viễn có 01 cơ sở dệt lưới nylon với 12
máy dệt có thị trường ổn định ở TP.HCM và các tỉnh miền tây nhưng còn gặp khó
khăn về giao thông và nguồn điện sản xuất. Và có 02 cơ sở sản xuất gạch với
khoảng 60 lao động có thị trường tiêu thụ tại huyện nhưng cung gặp khó khăn về
đầu ra, nguồn nguyên liệu và lao động tại địa phương.
-
Thị trấn Trảng Bom có 01 cơ sở dệt áo len với
25 lao động có thị trường tiêu thụ tại Biên Hòa, Bình Dương và TP.HCM. Cơ sở
còn gặp khó khăn về nguồn lao động và máy móc thiết bị. Có 01 cơ sở làm chổi cỏ
với 20 lao động tiêu thụ tại TP.HCM. Và 02 cơ sở sản xuất nhang với khoảng 10
lao động tiêu thụ tại địa phương và các vùng lân cận. Các cơ sở còn gặp khó khăn
về đầu ra, mặt bằng sản xuất và nguồn lao đông tại địa phương.
Nhận xét:
Các ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp khác ở địa bàn huyện còn rất ít do gặp khó khăn về đầu ra, công nghệ sản
xuất, nguồn nguyên liệu và nguồn lao động. Các cơ sở có dấu hiệu mai một như các
cơ sở chế biến tinh bột mì trước đây có khoảng 70 cơ sở thì nay chỉ còn 19 cơ sở
do không đầu tư đổi mới công nghệ nên chất lượng tinh bột thấp và khó khăn đặt
biệt là thiếu nguồn nguyên liệu, hầu hết các cơ sở chỉ hoạt động khoảng
03tháng/năm. Sản phẩm làm ra không cạnh tranh nổi với sản phẩm tinh bột mì của
tỉnh Tây Ninh có đầu tư công nghệ hiện đại và nguồn nguyên liệu dồi dào
|