Lợi thế Đầu tư

 

        1- Đồng Nai nằm trong địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam là trọng điểm đầu tư của Chính phủ. Trung tâm của tỉnh là thành phố Biên Hòa, cách TP. Hồ Chí Minh 30 km về phía Tây, một trung tâm kinh tế-khoa học kỹ thuật - văn hoá giáo dục lớn nhất cả nước. Với dân số trên 5 triệu người của TP.Hồ Chí Minh có thu nhập bình quân cao nhất nước cùng với dân số trên 2 triệu người của Đồng Nai là thị trường tiêu thụ rộng lớn và nguồn cung cấp lao động đạt chất lượng cao, dồi dào cho nền sản xuất công nghiệp của Đồng Nai.

 

 

          2- Đồng Nai có hệ thống giao thông rất thuận lợi với các quốc lộ 1, 51, 20 với tổng chiều dài 244,5 km đã và đang được mở rộng nâng cấp theo tiêu chuẩn đường cấp I, II đồng bằng (Quốc lộ 1, 51), cấp III đồng bằng (Quốc lộ 20) có nhiều tuyến đường liên tỉnh, tuyến đường sắt Bắc-Nam và hệ thống các cảng ở Đồng Nai cùng với cảng ở TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất ... đáp ứng tốt cho nhu cầu lưu thông hàng hoá. Hệ thống cảng tại Đồng Nai gồm :

         + Cảng Long Bình Tân trên sông Đồng Nai : cách quốc lộ 1, phía bên phải hướng từ TP Hồ Chí Minh đi Hà Nội 800 mét, công suất 460.000 Tấn/năm.

         + Cảng Gò Dầu A trên sông Thị Vải : cách quốc lộ 51 vào khoảng hai km, phía bên phải hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu, cỡ tàu lớn nhất được tiếp nhận khoảng 2.000 GRT.

         + Cảng Gò Dầu B trên sông Thị Vải : cách quốc lộ 51, phía bên phải hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu 2,5 km, đang khai thác và sẽ nâng công suất 10 triệu tấn/năm, có khả năng tiếp nhận tàu 15.000 DWT.

         Trong tương lai hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh sẽ tiếp tục được nâng cấp, mở rộng và đầu tư mới như trục đường bộ các nước khu vực Đông Nam Á, đường cao tốc nối TP. Hồ Chí Minh với Bà Rịa-Vũng Tàu, hệ thống đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu, kế hoạch nối mạng đường sắt Singapore-Côn Minh (Trung quốc) có 50 km chạy qua Đồng Nai để hòa vào mạng lưới đường sắt Bắc-Nam được cải tạo theo tiêu chuẩn quốc tế.

 

     3- Đồng Nai có nguồn và hệ thống cung cấp nước đầy đủ đến các khu công nghiệp. Nguồn nước mặt sông Đồng Nai không chỉ cung cấp cho Đồng Nai mà còn cung cấp cho TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương. Các nhà máy nước hiện cung cấp nước cho các cụm khu công nghiệp gồm nhà máy nước Biên Hoà 36.000m3/ngày, nhà máy nước Long Bình 30.000m3/ngày, nhà máy nước Thiện Tân 100.000m3/ngày, nhà máy nước Nhơn Trạch 15.000m3/ngày.Trong tương lai nhà máy nước Thiện Tân sẽ mở rộng với công suất lên 1.000.000m3/ngày, nhà máy nước Nhơn Trạch 200.000 m3/ngày, nhà máy nước Gia Ray 2.400 m3/ngày, trạm bơm Hóa An 6.000 m3/ngày, nhà máy nước Long Khánh 5.000 m3/ngày khi có nhu cầu của sự phát triển kinh tế Đồng Nai.

         4- Đồng Nai đã có quy hoạch dành 8.121 ha cho phát triển 19 khu công nghiệp tập trung trong đó có 10 khu công nghiệp đã được Chính phủ phê duyệt với diện tích 2.718 ha và được bố trí ở những hành lang trục giao thông lớn như quốc lộ 51, quốc lộ 1 chỉ cách TP. Hồ Chí Minh từ 30 km đến 80km. Do đó hiện nay có khoảng 1.000 ha đất trống trong các khu công nghiệp đã có sẵn cơ sở hạ tầng có thể xây dựng ngay nhà máy công nghiệp và 5.800 ha đất trống sẵn sàng xây dựng hạ tầng cho yêu cầu phát triển công nghiệp trong tương lai.

         5- Nông nghiệp tỉnh Đồng Nai với diện tích 292.000ha đất trồng trọt với gần 1,4 triệu dân số, lao động cần cù, chịu khó và có nhiều kinh nghiệm cả trồng trọt và chăn nuôi nên là một thị trường tiềm năng cả về tiêu thụ và nguyên liệu rộng lớn của công nghiệp. Mặt khác nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai phát triển theo hướng tập trung chuyên canh nên có khối lượng nông sản, hàng hoá lớn và cây công nghiệp có thể đáp ứng cho nhu cầu công nghiệp chế biến như : cà phê, cao su, mía, bông, khoai mỳ, bắp, đậu nành, thuốc lá, điều, cây ăn quả ...

 

         6- Đồng Nai đã tập trung phát triển lưới điện phục vụ cho yêu cầu phát triển công nghiệp và thực hiện có kết quả chương trình điện khí hoá nông thôn. Tỉnh Đồng Nai có nhà máy thủy điện Trị An với tổng công suất phát là 400 MVA đươc hòa vào mạng lưới quốc gia thông qua các đường dây 220 KV Trị An - Long Bình. Đường dây 220 KV từ Đa Nhim về cũng hòa lưới điện tại trạm 220/110 KV-2x250 MVA Long Bình. Đường dây 220 KV xuất tuyến từ trung tâm nhiệt điện Phú Mỹ cũng được kết nối tại trạm Long Bình. Để xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn chỉnh, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam tiếp tục đầu tư để cải tạo và nâng cấp hệ thống điện truyền tải cũng như phân phối. Bên cạnh lưới điện quốc gia tỉnh Đồng Nai còn có Công ty Liên doanh Amata Power, tự phát điện để cấp điện cho khu công nghiệp Amata và các khu công nghiệp lân cận.

Để đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh, Đồng Nai đã xây dựng quy hoạch phát triển lưới điện đến năm 2005 có tính đến năm 2010 và Bộ Công nghiệp đã phê duyệt với vốn đầu tư cho các giai đoạn 2001-2005 là 1.641 tỷ đồng trong đó ngành điện đầu tư cho lưới trung cao áp là 1.452 tỷ đồng và đáp ứng được nhu cầu đến năm 2005 tổng điện năng nhận là 2.894 triệu KWh, điện bình quân đầu người của toàn tỉnh đạt 1.236 KWh và năm 2010 tổng điện năng nhận là 5.131 triệu KWh, điện bình quân đầu người của toàn Tỉnh đạt 1.957 KWh.

 

     7- Địa hình tỉnh Đồng Nai là dạng địa hình trung du chuyển từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng Nam Bộ, có 3 loại địa hình chính là: địa hình đồng bằng (có độ cao trung bình từ 5 - 10 m), địa hình vùng đồi (có độ cao trung bình khoảng 45 m) và địa hình vùng núi thấp (chiếm 2% diện tích đất tự nhiên, có độ cao trung bình khoảng 300 m). Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25,40C đến 27,20C; độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 83,5%. Lượng mưa trung bình là 1.800 mm, lượng mưa phân phối không đều, chủ yếu vào mùa mưa. Khí hậu Đồng Nai mang nét đặc trưng của khí hậu Miền Đông Nam bộ : có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 của năm sau. Hướng gió chủ yếu trong năm là hướng Tây - Tây Nam và Bắc - Đông Bắc, là khu vực ít có lốc hay bão. Ngoài ra tỉnh Đồng Nai còn có hệ thống sông rạch rộng lớn, các sông chính bao gồm Sông Bé, Sông La Ngà, Sông Đồng Nai, Sông Nhà Bè, Sông Đồng Tranh..., hồ thủy điện Trị An cũng là nơi điều tiết lớn lượng nước để làm thuỷ điện, dự trữ tưới tiêu và ngăn lũ. Điều kiện tự nhiên của tỉnh Đồng Nai rất thuận lợi cho phát triển kinh tế đặc biệt là công nghiệp.

         8- Khoáng sản Đồng Nai tương đối phong phú về chủng loại và đa dạng về loại hình. Đến nay đã phát hiện được 214 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng hóa với tiềm năng triển vọng khác nhau thuộc 5 nhóm : than bùn, kim loại, không kim loại, đá quí- bán quí và nước khoáng- nước ngầm. Trong đó các loại khoáng sản có triển vọng là :

          + Nhóm không kim loại : các khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và phụ gia ximăng ( đá, cát, sét, laterit, puzơlan, keramzit ).

          + Nhóm kim loại : vàng

          + Nhóm nước ngầm

          Các tài liệu địa chất hiện có cho thấy Đồng Nai có kết cấu địa chất tương đối ổn định, vững chắc. Lớp vỏ phong hóa rất dày và cấu tạo phong phú, đặc biệt kiểu vỏ phong hóa chiếm phần lớn địa bàn là laterit dạng dăm ferit ferolit do các keo sắt đang trong quá trình biến đổi nên chúng có độ gắn kết và chịu lực rất tốt, do đó khi xử lý nền móng ít tốn kém, thuận lợi cho việc xây dựng các công trình như nhà xưỡng, đường giao thông, bến cảng...

UBND tỉnh đã phê duyệt báo cáo "Quy hoạch sử dụng và các biện pháp quản lý tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2010" là căn cứ cho việc khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản trên địa bàn, đáp ứng nhu cầu về công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản theo Luật khoáng sản.

 

         9- Thông tin liên lạc của Đồng Nai đã được đầu tư mở rộng và hiện đại hóa đáp ứng tốt yêu cầu với chất lượng cao. Toàn tỉnh có 79 bưu cục, 47 tổng đài điện thoại điện tử, tập trung ở các trung tâm công nghiệp.

         Dịch vụ thông tin di động đã có : thông tin di động hệ GSM với 17 trạm phủ sóng tại thành phố Biên Hòa, khu công nghiệp Amata, khu công nghiệp Biên Hòa 1, khu công nghiệp Biên Hòa 2, khu công nghiệp Hố Nai, khu công nghiệp Loteco, khu công nghiệp Sông Mây, khu công nghiệp Nhơn Trạch 1, khu công nghiệp Nhơn Trạch 2, khu công nghiệp Gò Dầu, trung tâm các huyện Long Thành, huyện Nhơn Trạch, huyện Thống Nhất, thị xã Long Khánh, huyện Định Quán, huyện Xuân Lộc, huyện Vĩnh Cửu, huyện Trảng Bom, huyện Cẩm Mỹ.

         Dịch vụ nhắn tin đã có : nhắn tin Việt Nam (107, MCC, Phonelink, ABC, EPRO), Internet, VN.Mail, VNN, truyền số liệu tốc độ cao ISDN... với hệ thống truyền dẫn cáp sợi quang đảm bảo chất lượng, nhanh chóng, chính xác.

Dịch vụ bưu chính đã có chuyển phát nhanh EMS, chuyển phát nhanh tận nơi : DHL Fedex, Airborne, PCN, UPS, Vinacargo...

 

    10- Các nhà đầu tư đến Đồng Nai có thể giải trí sau những giờ làm việc nặng nhọc thông qua các khu du lịch của tỉnh như : khu văn miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch Bửu Long, rừng quốc gia Nam Cát Tiên, làng bưởi Tân Triều, Đảo Ó-Đồng Trường, thác Mai- hồ nước nóng... và các tỉnh lân cận như : du lịch biển tại Bà Rịa-Vũng Tàu, Mũi Né (Bình Thuận) và đặc biệt là thắng cảnh nổi tiếng hấp dẫn của xứ sương mù Đà Lạt.

Chính vì những yếu tố nêu trên nên trong 10 năm thực hiện đổi mới nền công nghiệp Đồng Nai đã có tốc độ phát triển khá cao, đạt mức tăng trưởng 28,48%/năm, đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến Đồng Nai. Trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã thu hút trên 260 dự án đầu tư với vốn đăng ký khoảng trên 4,5 tỷ USD. Kết quả phát triển công nghiệp đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Đồng Nai từ một tỉnh nông nghiệp thành một tỉnh công nghiệp với cơ cấu công nghiệp chiếm đến 52,12% trong GDP trong năm 2000.

       Năm 2001, ngành công nghiệp Đồng Nai tiếp tục phát triển với tốc độ 15,1%, cơ cấu công nghiệp trong GDP tăng lên 53,64%. Trong  quí 1/2002 đã thu hút được 19 dự án đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký là 40,2 triệu USD. Luỷ kế đền qui1/2002 toàn tỉnh có 333 dự án còn hiệu lực với vốn đăng ký 5,13 tỷ USD, trong đó có 226 dự án đang sản xuất kinh doanh ; 18 dự án đang xây dựng với tổng vốn thực hiện 2,25 tỷ USD đạt 45% tổng vốn đăng ký.